13.3.09

Sản xuất gạch, gốm tại ĐBSCL: Loay hoay chuyển đổi

ĐBSCL hiện có khoảng 4.500 lò gạch, gốm, tập trung chủ yếu tại ba tỉnh Vĩnh Long, An Giang và Đồng Tháp. Hầu hết các lò gạch, gốm hoạt động bằng công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm môi trường. Năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 115/2001/QĐ-TTg trong đó nhấn mạnh “Tiến tới xóa bỏ việc sản xuất gạch, gốm đất sét nung bằng lò thủ công ở ven đô thị trước năm 2005 và ở các vùng khác trước 2010”. Tuy nhiên, đến nay, các địa phương có nghề sản xuất gạch gốm tại ĐBSCL vẫn đang phải loay hoay với việc lập đề án thí điểm.

Khí độc gấp 33 lần cho phép


Các lò gạch, gốm tại tuyến công nghiệp Cổ Chiên, Vĩnh Long ngày đêm phả khói độc vào không khí.
An Giang là một trong những tỉnh có nghề làm gạch, ngói phát triển lâu đời nhất tại ĐBSCL. Hiện tỉnh này có 607 cơ sở sản xuất gạch, ngói với gần 1.700 miệng lò, tập trung nhiều nhất ở các huyện Chợ Mới, Châu Thành, Châu Phú.

Theo ghi nhận, hầu hết các lò gạch đều nằm xen lẫn hoặc gần khu dân cư và gần như 100% các lò gạch, ngói ở An Giang đều làm theo phương pháp thủ công, sử dụng trấu để nung gạch. Trong quá trình nung, khói đen, các loại khí độc như HF, Co, Co2, bụi từ các miệng lò ngày đêm phả ra môi trường, ảnh hưởng nặng nề đến đời sống, sinh hoạt của người dân. Ngay cả cây cối, vườn tược cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Về vấn đề này, các chủ cơ sở sản xuất gạch, ngói cũng phải thừa nhận. “Chúng tôi là những chủ lò cũng cảm thấy rất khó chịu mỗi khi đốt lò nhưng biết làm sao được, chỉ mong ngành chức năng có giải pháp giúp cải tiến kỹ thuật chứ đóng cửa thì dân cả vùng này sẽ chẳng biết làm nghề gì”, bà Hà Thị Bích Vân, chủ cơ sở sản xuất gạch Năng Gù ở Châu Phú, An Giang nói.

Với hơn 1.180 cơ sở và khoảng 2.000 miệng lò đang hoạt động, Vĩnh Long được mệnh danh là “vương quốc” của nghề sản xuất gạch, gốm tại ĐBSCL. Hằng năm, địa phương này cung ứng cho thị trường trên 550 triệu viên gạch và trên 18,4 triệu sản phẩm gốm. Ngành sản xuất gạch, gốm được xem là ngành kinh tế mũi nhọn của Vĩnh Long. Tuy nhiên, chính việc khai thác tối đa thế mạnh trên đã làm cho ô nhiễm môi trường tại các khu vực sản xuất gạch, gốm đã đến mức báo động.

Hàng ngàn hộ dân sống cặp tuyến sông Cổ Chiên, tuyến công nghiệp được quy hoạch phát triển gạch, gốm kéo dài hơn 30km từ thị xã Vĩnh Long đi qua huyện Mang Thít, Long Hồ nhiều năm nay phải sống trong cảnh ngộp thở vì khói lò nung.

Anh Huỳnh Tấn Dự, ngụ ấp Hòa Long, xã Mang Thít, Vĩnh Long, bức xúc: “Năm nào cũng vậy, đến mùa gió chướng cả xóm tôi ở muốn nghẹt thở vì khói từ các lò gạch, gốm. Đến bữa cơm, khói, bụi từ các lò gạch bám vào nồi đen thui. Đêm nằm ngủ, sáng thức dậy lỗ mũi ai cũng đen thui vì bồ hóng bám đầy”.

Theo kết quả quan trắc và kiểm tra môi trường mới nhất, chất lượng không khí tại các khu vực sản xuất gạch, gốm của Vĩnh Long đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, nồng độ khí HF vượt tiêu chuẩn cho phép (TCCP) từ 10 - 33 lần và nồng độ CO vượt TCCP từ 1,2 - 7,7 lần, nồng độ bụi cũng vượt TCCP từ 1,4 - 8,4 lần.

Cần có lộ trình

Trước tình trạng ô nhiễm môi trường như trên, các địa phương vẫn loay hoay tìm các giải pháp. Tại Vĩnh Long, dù thời gian qua tỉnh đã thí điểm nhiều mô hình như xây dựng lò nung gạch, gốm đốt bằng gas, lò nung liên tục kiểu đứng (công nghệ Trung Quốc)… nhưng chưa có kết quả khả quan.

Từ năm 2007, tỉnh An Giang cũng đã có nhiều giải pháp cải tiến kỹ thuật được đưa ra nhưng kết quả cũng không mấy khả quan. Mới đây, Trung tâm Ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ tỉnh An Giang đã phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu và phát triển về tiết kiệm năng lượng và Trường Đại học Hoàng gia Songkla, Thái Lan nghiên cứu cải tiến lò nung liên tục đốt trấu (công nghệ Thái Lan) tại An Giang. Lò gạch Năng Gù của bà Hà Thị Bích Vân (huyện Châu Phú) được chọn triển khai xây dựng thí điểm.

Qua thời gian hoạt động, mô hình này có nhiều ưu điểm hơn các mô hình khác về kinh phí xây dựng, tiết kiệm 30% nguyên liệu so với lò thủ công, đáp ứng các yếu tố về môi trường… Bà Hà Thị Bích Vân, chủ lò gạch Năng Gù, cho biết: “Trước mắt, tôi thấy khá hiệu quả, chất lượng gạch tốt nhưng do mới ứng dụng nên máy móc còn hay trục trặc”.

Theo quy hoạch, thì đến năm 2010, đích đến của công nghệ sản xuất gạch, ngói, gốm là lò tunel (công nghệ Italia) với dây chuyền sản xuất hiện đại cho sản phẩm tốt và kiểm soát được môi trường. Nhược điểm duy nhất của lò tunel là chí phí đầu tư lên đến 15 - 20 tỷ đồng, vượt quá khả năng của người dân và doanh nghiệp nhỏ.

Ông Trần Anh Thư, Phó Giám đốc Sở TN-MT tỉnh An Giang, thừa nhận: “Trước những khó khăn tồn tại hiện nay thì việc thực hiện đúng thời hạn như Quyết định 115 của Chính phủ là rất khó khăn”. Vì vậy, để tiến tới công nghệ tiên tiến như tunel, trước tiên phải tìm ra công nghệ “bước đệm” vừa đảm bảo kiểm soát được tác động môi trường, vừa trong khả năng đầu tư của người dân.

Hiện nay, chỉ mới có tỉnh An Giang đã xác định được lộ trình chuyển đổi cho nghề sản xuất gạch, gốm. Theo đó, từ cuối năm 2008 tỉnh này không cho mở rộng, xây dựng mới lò gạch, ngói sử dụng công nghệ thủ công.

Năm 2009, bắt buộc trên 100 cơ sở với khoảng gần 400 lò gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (ô nhiễm cấp 1) nằm trong khu vực dân cư đông đúc, trường học, trạm y tế phải di đời; chuyển đổi sang công nghệ tiên tiến không gây ô nhiễm môi trường với chính sách hỗ trợ, ưu đãi về công nghệ, vốn và đào tạo.

Năm 2010 tiếp tục bắt buộc 147 cơ sở với khoảng 374 miệng lò (ô nhiễm cấp 2) chuyển đổi công nghệ. Từ năm 2011- 2014 bắt buộc các cơ sở sản xuất gạch ngói thủ công còn lại phải chuyển đổi dần công nghệ. Đầu năm 2015 đóng cửa dứt điểm các lò gạch thủ công.

Đình Tuyển
(SGGP 12G)